Tiêu chuẩn chẩn đoán ADHD theo DSM V

Cuốn Thống Kê và Chẩn Bệnh Tâm Thần, hiệu đính lần thứ 5 (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, viết tắt DSM -5), do Hiệp Hội Tâm Thần Học Hoa Kỳ xuất bản vào năm 2013, là cẩm nang chính thức được các bác sĩ tâm thần , chuyên viên tâm lý tại Mỹ áp dụng để thẩm định 3 dạng rối loạn tăng động giảm chú ý ở trẻ em và thanh thiếu niên bao gồm:

Dạng thứ nhất: Rối Loạn Tăng Động – Nổi Trội về Giảm Chú Ý

Dạng thiếu chú ý (Inattention) có 9 tiêu chuẩn, đòi hỏi trẻ phải hội đủ 6 tiêu chuẩn trở lên, và những triệu chứng thuộc dạng nầy phải xuất hiện trong vòng 6 tháng trở lại.

a) Không chú ý đến chi tiết (poor attention to details). Ví dụ: X hay làm sai bài tập ở trường vì bất cẩn, bỏ sót nhiều câu hỏi hay ý tưởng có liên quan đến đề bài, hoặc người lớn thường làm việc không đúng với mục đích hay sự qui định của cấp trên. 
b) Thường có vấn đề khi phải chú tâm đến những công việc đòi hỏi có lặp đi lặp lạị, dễ sinh nhàm chán (problems sustaining attention in boring or repetitious tasks). Ví dụ: X không thể chú ý duy trì sự chú ý khi nghe bài giảng của giáo viên, lơ đãng trong lúc trò chuyện, hoặc có những khoảng khắc yên lặng không rõ lý do trong lúc đọc bài. 
c) Không tỏ vẻ lắng nghe khi người khác trực tiếp nói chuyện với mình (she/he doesn’t seem to listen when spoken to directly). Ví dụ: X đang trò chuyện nhưng tâm trí như lạc vào thế giới khác, mặc dù chung quanh X chẳng có vật thể hoặc ai khiến X bị chi phối. 
d) Luôn gặp khó khăn khi phải tuân theo những hướng dẫn của giáo viên hay phụ huynh, và thường không thể hoàn tất bài tập ở lớp, hoàn thành công việc ở nhà, hoặc ở chỗ làm (she/he fails to finish school work, chores, or duties in the workplace). Ví dụ: X làm bài ở lớp nhưng tâm trí hay xao lãng, thường không làm xong bài tập đúng theo thời gian hạn định của giáo viên, mặc dù X có khả năng học tập. 
e) Hay gặp trở ngại khi phải tổ chức công việc và các hoạt động khác (She/he often has difficulty organizing tasks and activities). Ví dụ: X thường gặp khó khăn khi quản lý hay hoàn thành công việc phải tiến hành theo trình tự (difficulty managing or finishing sequential tasks), gìn giữ vật dụng hay những vật sở hữu theo ngăn nắp (difficulty keeping materials and belongings in order), công việc tiến hành thường bừa bãi, hỗn độn (disorganized work), không biết tận dụng thời gian (poor time management), không thể làm xong công việc theo thời hạn ấn định (she/he fails to meet deadlines). 
f) Hay lẫn tránh, không thích, hoặc do dự tham gia vào những công việc đòi hỏi sự duy trì và vận dụng trí óc (she/he often avoids, dislikes, or is reluctant to engaged in tasks that required sustained mental effort). Ví dụ: Trẻ nhỏ không thích làm bài tập ở trường (schoolwork), bài tập ở nhà (homework), hoặc người lớn không thích điền vào đơn từ (completing forms), xem xét những giấy tờ có nhiều trang giấy (lengthy papers).
g) Thường đánh mất những vật dụng cần thiết để hoàn thành công việc hoặc hoạt động nào đó (She/he often loses things necessary for tasks or activities). Ví dụ: X hay mất bút chì, bút mực, sách vở, dụng cụ học tập; hoặc ngườii lớn thì hay mất ví, chìa khóa, giấy tờ, mắt kính, điện thoại, v.v…). 
h) Trẻ dễ bị phân tâm bởi những kích động chung quanh mình (She/he often is distracted by extraneous stimuli); còn với người lớn thì thường bày tỏ những ý tưởng không liên hệ đến chủ đề đang bàn luận với người khác (unrelated thoughts). 
i) Tính hay quên (forgetfulness). Ví dụ: X thường quên những công việc hằng ngày ở gia đình, ở trường; còn người lớn thì quên trả lời điện thoại, trả hóa đơn tiền điện, tiền nước, giữ hẹn với nha sĩ, bác sĩ gia đình, v.v… 
Ghi chú: Trẻ dưới 17 tuổi cần 6 điểm trở lên mới hội đủ tiêu chuẩn dạng rối loạn tăng động giảm chú ý (Inattention hoặc Predominantly Inattentive Presentation). Riêng thanh thiếu niên hay người trưởng thành trên 17 tuổi thì chỉ cần hội đủ tối thiểu 5 điểm.

Dạng thứ hai: Rối Loạn Tăng Động - Nỗi Trội về Sự Tăng Động và Bốc Đồng

Dạng tăng động và bốc đồng (Hyperactivity and Impulsivity) có 9 tiêu chuẩn, đòi hỏi trẻ phải hội đủ 6 tiêu chuẩn trở lên. Những triệu chứng thuộc dạng nầy phải xuất hiện trong vòng 6 tháng trở lại.

a) Ngồi không yên, thích cựa quậy, đánh nhịp, vặn vẹo chân tay (she/he often fidgets with or taps hands or feet or squirms in seat). 
b) Hay rời bỏ ghế ngồi hoặc vị trí được chỉ định (she/he often leaces saet in situations when remaining seated is expected). Ví dụ: X thường rời ghế ngồi trong lớp học, hoặc người lớn thì không thích ngồi lâu ở văn phòng hay nơi làm việc khác.
c) Thường leo trèo, chạy nhảy lung tung trong những tình huống không thích hợp (she/he often runs about or climbs in situations where it is inappropriate). Hoặc ở người lớn là sự bộc lô tâm trạng bất an (feeling restless). 
d) Thường không thể chơi hay hòa mình vào những hoạt động giải trí một cách nhẹ nhàng, êm thắm (she/he is often unable to play or engage in leisure activities quiety). 
e) Đứng ngồi không yên, đôi chân chỉ thích đi (on the go) và hành động như bị thúc đẩy bởi động cơ nào đó (acting as driven by a motor). Ví dụ: X không thỏa mái khi ngồi lâu trong quán ăn hay ở những nơi hội họp đông người, thường hành động khiến người khác cho là cẩu thả, bồng bột, khó bắt kịp. 
f) Thích nói nhiều (she/he often talks excessively). 
g) Hay trả lời trước khi người khác hỏi xong (she/he often blurts out an answer before a question has been completed. Ví dụ: X thường đệm lời trọn câu cho người khác (to complete people’s sentences), hoặc không biết chờ đến lượt mình phát biểu trong đối thoại (cannot wait for turn in conversation). 
h) Không kiên nhẫn chờ đợi (she/he often has difficulty waiting her/his turn). Ví dụ: X không muốn sắp hàng có trật tự trước khi vào lớp hay khi đi mua sắm và phải sắp hàng ở siêu thị. 
i) Ưa quấy rầy hoặc làm gián đoạn công việc của người khác (she/he often interrupts or intrudes on others). Ví dụ: X hay xen lời vào khi nghe người khác nói chuyên, chơi lấn, gây phiền phứt trong các hoạt động, tự tiện sử dụng đồ vật mà không hỏi ý kiến hay xin phép giáo viên.

Mức độ nặng nhẹ (Severity levels):

- Nhẹ (mild): đạt dưới 5 tiêu chuẩn 
- Vừa phải (moderate): đạt 6 – 7 tiêu chuẩn
- Nghiêm trọng (severe): đạt 7 tiêu chuẩn trở lên.

Dạng thứ ba: Kết Hợp (Combined Presentation)

Dạng kết hợp (Combined Presentation) bao gồm 9 tiêu chuẩn của dạng giảm chú ý (Inattention) và 9 tiêu chuẩn của dạng tăng động và bồng bột (Hyperactivity and Impulsivity). Dạng kết hợp nầy đòi hỏi trẻ phải hội đủ tối thiểu 6 tiêu chuẩn của nhóm 1 và 6 tiêu chuẩn của nhóm 2 nêu trên và những triệu chứng thuộc dạng kết hợp phải xuất hiện trong vòng 6 tháng trở lại.

AD/HD là khuyết tật không thể trắc nghiệm dựa vào sự chẩn đoán bằng cách thử máu hay chụp x-ray. Nếu nghi ngờ con em bị AD/HD, phụ huynh nên cho con em gặp các bác sĩ tâm thần để có sự chẩn đoán chính xác hơn.

Thông thường, dạng giảm chú ý (Inattention hoặc Predominantly Inattentive Presentation) khó thẩm định hơn so với dạng tăng động và bồng bột (Hyperactivity and Impulsivity hoặc Predominantly Hyperactive/Impulsive Presentation). Tuy nhiên, các bác sĩ tâm lý/tâm thần có thể giúp phụ huynh xác định và hiểu rõ hơn về những biểu hiện của AD/HD qua những bài trắc nghiệm chuẩn và tìm cách trị liệu thích hợp nào đó cho các em.

Những điều cần biết nếu phụ huynh có con em bị AD/HD và hiện sống ở Hoa Kỳ - AD/HD thuộc vào dạng Khiếm Khuyết về Sức Khỏe Khác (Other Health Impairments)

Ở Hoa Kỳ, điều khoản 34 CFR 300.8 (c) (9) (i) (ii) định nghĩa trẻ hay học sinh bị khiếm khuyết về sức khỏe khác như sau:

• Trẻ hay học sinh bị giới hạn về sức lực, về tính sinh động hoặc về sự cảnh giác … đối với những tác động của môi trường … bởi những vấn đề sức khỏe xảy ra thường xuyên (chronic) hoặc cấp tính (acute) như bệnh suyễn (asthma), rối loạn thiếu chú ý (attention deficit disorder or ADD), rối loạn tăng động/thiếu chú ý (attention deficit hyperactivity disorder or AD/HD), bệnh tiểu đường (diabetes), động kinh (epilepsy), bệnh tim, chứng loãng máu (hemophilia), bị độc chì (lead poisoning), bệnh ung thư bạch cầu (leukemia), sốt thấp khớp (rheumatic fever), bệnh hồng huyết cầu có dạng lưỡi liềm (sickle cell), thiếu máu (anemia) và hội chứng Tourette.
• Những khiếm khuyết về sức khỏe nêu trên có tác động đối nghịch với thành quả học tập của trẻ hay học sinh ở nhà trường.

Từ lâu, chứng tăng động/thiếu chú ý (AD/HD) đã là đề tài tranh cãi gây cấn trước pháp lý giữa phụ huynh và nhà trường. Vì sao?

Từ khi Đạo Luật Đạo Luật Giáo Dục Cá Nhân Khuyết Tật được ban hành vào năm 1975 cho đến nhiều năm về sau, Quốc Hội Hoa Kỳ vẫn chưa công nhận chứng tăng động/thiếu tập trung như là một dạng khuyết tật ở học đường. Vì lý do nầy, nhiều học khu thường phủ nhận AD/HD, bất luận những tác động của AD/HD đối với thành quả học tập của trẻ hay học sinh thuộc mức độ nào ở nhà trường.

Vào năm 1991, nhằm mục đích giải quyết mâu thuẫn trên, Văn Phòng Đặc Trách Dân Quyền (Office for Civil Rights) và Văn Phòng Đặc Trách Chương Trình Giáo Dục Đặc Biệt (Office of Special Education Program or OSEP) thuộc Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ (U.S. Department of Education) đã chỉ thị cho các học khu rằng trẻ hay học sinh bị chứng tăng động/thiếu chú ý có thể hội đủ điều kiện khuyết tật thuộc dạng khiếm khuyết về sức khỏe khác và được sự bảo vệ của Đoạn 504, một đạo luật về dân quyền hay còn gọi là Đoạn 504 của Đạo Luật Phục Hồi (Section 504 of the Rehabilitation Act of 1973) - U.S. Deparment of Education - Joint Policy Memorandum (1991).

Trong Thư gởi Cohen (Letter to Cohen, 1993), Văn Phòng Đặc Trách Chương Trình Giáo Dục Đặc Biệt (OSEP) đã khẳng định rằng trẻ hay học sinh bị chứng tăng động/thiếu chú ý được hội đủ điều kiện khuyết tật ở dạng khiếm khuyết về sức khỏe khác, dựa vào những biểu hiện có giới hạn về sự cảnh giác trong vấn đề học tập, gây ra bởi sự tác động của môi trường.

Mặc dù có sự giải thích và chỉ thị rõ ràng của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ, hầu hết các học khu vẫn cương quyết không chấp hành, viện lẽ rằng AD/HD không phải là một khuyết tật nêu rõ trong Đạo Luật Giáo Dục Cá Nhân Khuyết Tật.

Vào năm 1999, để đối phó với sự ương ngạnh của các học khu, những điều khoản mới được bổ xung trong IDEA với định nghĩa và điều kiện về khiếm khuyết sức khỏe khác, bao gồm cả chứng tăng động/thiếu tập trung.

Bởi vì Hiệp Hội Tâm Thần Học Hoa Kỳ (the American Psychiatric Association, viết tắt APA) liệt kê chứng tăng động/thiếu tập trung trong Cẩm Nang Thống Kê và Chẩn Bệnh (DSM) và những dạng rối loạn phụ thuộc khác như dạng thiếu tập trung (inattentive type), dạng tăng động (hyperactive type), dạng kết hợp thiếu thiếu chú ý và tăng động (combined type) thuộc nhóm khiếm khuyết về sức khỏe khác (other health impairment or OHI), nhiều người bênh vực cho rằng chủ ý của Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ trong những điều khoản bổ xung nầy chính là nới rộng điều kiện và tiêu chuẩn khuyết tật cho bất cứ dạng thiếu chú ý hay tăng động trong IDEA theo khuôn mẫu của DSM.

Ngoài ra, Hiệp Hội Tâm Thần Học Hoa Kỳ cũng đã đưa ra những hướng dẫn cho các chuyên viên, bác sỹ trong ngành và xác định rằng sự đánh giá về mặt y học (medical evaluation) là một bộ phận quan trọng trong quá trình chẩn đoán chứng tăng động/thiếu tập trung. Thêm vào đó, sự thu thập dữ kiện về trẻ hay học sinh ở gia đình, ở cộng đồng và ở nhà trường là những điều cần thiết để xác định những biểu hiện thuộc chứng tăng động/thiếu tập trung nhằm đi đến một kết luận chính xác hơn trong vấn đề chẩn đoán khuyết tật.

Tuy nhiên, Bộ Giáo Dục Hoa Kỳ cho rằng nhà trường không cần thiết phải cân nhắc, xem xét hay đặt nặng sự đánh giá về mặt y học của các bác sỹ hay chuyên gia bên ngoài trường học, chỉ cần nhóm chuyên viên tâm lý/giáo dục ở nhà trường có kinh nghiệm và hội đủ điều kiện để chẩn đoán AD/HD là đủ - 21 IDELR 73 (1994); U.S. Dept. of Education – Joint Policy Memorandum, 18 IDELR 116 (1991).

Ngày nay, có những học khu đòi hỏi trẻ hay học sinh phải có sự chẩn đoán và xác nhận của bác sỹ để hội đủ điều kiện khuyết tật về chứng tăng động/thiếu chú ý. Trong những trường hợp đó, học khu sẽ chịu toàn bộ tổn phí cho sự chẩn đoán y học (medical evaluation).

Chứng tăng động/thiếu chú ý không thể xác định bằng cách thử máu hay chụp X-ray. Sự chẩn đoán thường dựa vào sự thẩm định và hồ sơ hay dữ kiện thu thập được từ phụ huynh và những báo cáo về học tập, về hạnh kiểm của trẻ hay học sinh ở nhà trường.

Nếu phụ huynh nghi ngờ con em bị chứng tăng động/thiếu chú ý, cách hay nhất chính là cho các em được thẩm định vừa bởi các chuyên gia tâm lý ở trường, vừa bởi các bác sỹ chuyên về chứng bệnh nầy.

Ở nhà trường, các chuyên viên tâm lý, giáo dục thường cho rằng chỉ có những học sinh có nhiều vấn đề về hạnh kiểm hay hành vi tiêu cực và có điểm thấp về học tập mới có cơ hội được thẩm định và xem xét có bị khiếm khuyết về sức khỏe. Sự thật là học sinh bị chứng tăng động/thiếu chú ý có thể học rất giỏi trong nhiều môn học, nhưng các em thường biểu hiện những hành vi gây rối, mất trật tự, không tuân thủ theo nội quy ở lớp trường. Những hành vi tiêu cực đó, nếu ảnh hưởng tiêu cực đến thành quả học tập, là những bằng chứng để các em được thẩm định và hội đủ điều kiện khuyết tật để tránh bị đuổi học thường xuyên bằng kỷ luật áp dụng cho những học sinh không bị khuyết tật khác ở nhà trường.

Ở Hoa Kỳ, không phải bất cứ học sinh bị chứng tăng động/thiếu chú ý nào cũng đều cần đến sự can thiệp của chương trình giáo dục đặc biệt. Nhiều em bị chứng rối loạn nầy chỉ cần đến sự bảo vệ của Đoạn 504 nếu nhu cầu khuyết tật đòi hỏi sự cải biến hay bổ sung đơn giản trong chương trình giảng dạy ở nhà trường.

***

Danang H. (phụ huynh)
Nguồn:
Desk Reference To The Diagnostic Criteria From DSM -5 (American Psychiatric Publishing, 2013)

Các bài viết khác:

Partner 01
Partner 02
Partner 03
MN Brainy house
Partner 05
Partner 07
YTCC