Áp dụng lý thuyết hành vi trong trị liệu tâm lý trẻ em

Hiện nay, các kiến thức tâm  lý học được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực: quản lý, giáo dục, tuyển chọn nhân sự, xã hội… Ngay cả với một ngành đặc thù như giáo dục đặc biệt, có những giáo viên chuyên biệt gặp khó khăn khi dạy trẻ, cũng có thể ứng dụng tâm lý học để  việc dạy được dễ dàng hơn. Để ứng dụng được các cách thức làm việc với trẻ, các nhà trị liệu cần nắm rõ các lý thuyết về các trường phái trị liệu căn bản – kim chỉ nam cho mỗi hoạt động.  Trong số đó, lý thuyết hành vi là một trong những lý thuyết được sử dụng phổ biến và rộng rãi.

Thuyết hành vi phát triển rực rỡ vào những năm 1930 – 1950 dựa trên những quan điểm về hành vi con người của nhà tâm lý học Skinner. Theo lý thuyết hành vi, hành vi của con người được học thông qua trải nghiệm và là chức năng tương tác giữa họ và môi trường. Cả những hành vi bình thường và bất thường đều được hình thành theo chuỗi kích thích – phản ứng trên ba quá trình cơ bản: điều kiện hóa cổ điển, điều kiện hóa tạo tác và học qua quan sát.

Một mô hình khác lý giải hành vi của trẻ là do trẻ học tập qua quan sát – hay đơn giản là sự bắt chước những người xung quanh. Cụ thể, các hành vi được hình thành bằng cách quan sát ai đó thể hiện các hành vi này và lặp lại những hành vi đó. Việc trẻ bắt chước ai và bắt chước những hành vi nào lại phụ thuộc vào những củng cố mà trẻ nhận được khi thực hiện hành vi (trẻ thích hay không thích củng cố đó), hoặc tần suất của những hành vi trẻ quan sát được (trẻ càng quan sát được trong thời gian dài thì việc bắt chước càng dễ dàng và nhanh hơn). Vì vậy, để trẻ có những hành vi tốt, cần tạo ra những hình mẫu tốt cho trẻ.

Một mô hình khác được ứng dụng nhiều nhất trong tâm lý lâm sàng, cà trong quản lý nhân sự và giáo dục đó là thuyết dựa trên điều kiện hóa tạo tác. Trong mô hình này, hành vi của trẻ được hình thành qua việc học tập. Việc học là kết quả của thưởng và phạt. Xét dưới góc độ tâm lý lâm sàng, hành vi của trẻ được hình thành hay mất đi đều do tác dụng của việc củng cố (cụ thể là khen thưởng hay trừng phạt). Các hành vi không tốt của trẻ thường là kết quả của những củng cố không tốt (củng cố sai) hoặc các mẫu hình củng cố không tốt (sai). Đặc biệt, theo lý thuyết này, chúng ta sẽ củng cố tích cực cho những hành vi tốt của trẻ hơn là phạt những hành vi không tốt của trẻ. Khi trẻ bị phạt, có thể những hành vi không tốt sẽ giảm, nhưng trẻ không biết chúng được phép làm gì, hay làm gì mới đúng để không bị phạt, và cũng không thể chắc chắn sẽ không gây ra những hành vi sai phạm khác. Còn với việc khen thưởng cho hành vi tốt của trẻ, người lớn cho trẻ biết rằng, trẻ được phép làm những hành vi nào và với những hành vi đó trẻ sẽ nhận được sự khen ngợi.

Có thể lấy việc dạy trẻ phát âm làm ví dụ, nhà trị liệu bắt đầu bằng việc phát âm từ mà nhà trị liệu muốn trẻ học được (ví dụ: Con Gà), từ này được nhà trị liệu lặp đi lặp lại thường xuyên, đến khi trẻ có thể phát âm được từ Con Gà. Để làm được việc này, trẻ phải thực hiện quan sát và bắt chước khẩu hình của nhà trị liệu (âm "C", "O", "N", "G", "A", rồi đến cả từ dài "CON GÀ"), bắt chước những âm của nhà trị liệu phát ra, hoặc có những trẻ bắt chước cả giọng điệu của nhà trị liệu. Dần dần, trẻ sẽ tiếp thu và phát âm được từ "CON GÀ". Ngoài ra, trong khoảng thời gian đó, khi trẻ bắt chước hoặc phát âm được những âm này, nhà trị liệu luôn khen thưởng những cố gắng của trẻ, kể cả những cố gắng nhỏ nhất, như bắt chước khẩu hình miệng, nói được âm đầu, nói ngọn... đến khi trẻ nói đúng từ Con Gà. Những phần thưởng có thể dùng với trẻ như là: khen ngợi, ôm ấp, vỗ tay hoan hô, bim bim, chơi trò chơi...). Còn với trẻ chưa hợp tác, chưa có cố gắng hoặc cố tình phát âm sai thì nhà trị liệu có thể dùng củng cố tiêu cực với trẻ, thể hiện qua việc tước đi quyền lợi của trẻ hoặc phải làm một việc mà trẻ không thích (ví dụ, ngồi làm lâu hơn, phải vận động đứng lên - ngồi xuống mà trẻ không thích...). Những hệ quả tiêu cực này có tác dụng làm giảm hành vi không tốt của trẻ. 

Trần Ngọc Ly, Nguyễn Thị Thu Hương

Các bài viết khác:

Partner 01
Partner 02
Partner 03
MN Brainy house
Partner 05
Partner 07
YTCC