Tâm thần phân liệt

H, 31 tuổi, là kế toán đã nghỉ việc. H là con đầu trong gia đình có hai người con. Quá trình phát triển thể chất và tâm thần bình thường. Trong quá trình học, H luôn là học sinh khá giỏi, đặc biệt là các môn tự nhiên và H đã đỗ đại học ngay sau khi học xong phổ thông. Sau tốt nghiệp đại học, H làm kế toán cho một công ty nước ngoài. H luôn hoàn thành tốt công việc của mình và thường được khen thưởng.

            Cách đây tám năm, H tự nhiên thấy khó ngủ mặc dù không có lý do gì đặc biệt. H cảm thấy mình luôn ở trạnh thái căng thẳng, khó tập trung và hiệu xuất công việc giảm sút. Một tuần sau, H bắt đầu nghe thấy tiếng nói trong đầu. Lần đầu tiên, H nghe thấy tiếng nói vào ban đêm khi H nằm mà không ngủ được. Đó là giọng nói của một người đàn ông và một người đàn bà. Họ nói với nhau rằng "có người muốn hãm hại gia đình H" "ngôi nhà gia đình H đang xây đang bị công nhân ăn cắp sắt và xi măng" " gia đình H sẽ không xây được nhà" ... H nghe thấy vậy sợ quá gọi mẹ dậy và kể cho mẹ nghe những gì mà H nghe được. Mẹ H cho là con mình mơ ngủ nên khuyên con đi ngủ, đừng nghĩ vẩn vơ nữa. Về sau, tiếng nói như vậy xuất hiện ngày một thường xuyên hơn. H kể lại với người khác (kể cả bố và em trai) về tiếng nói. Nhưng mọi người cho là H quá đa nghi nên đặt điều nói vậy. H rất giận nhưng không biết làm gì khác được.

            Ở cơ quan, đồng nghiệp thấy H làm việc thiếu tập trung, hay nhầm lẫn và công việc thiếu sáng tạo. Khi ở nhà, H không còn vui vẻ, hoà đồng với mọi người, không quan tâm đến những việc trước đây H vẫn quan tâm như: nghe nhạc, đi du lịch, chơi cầu lông buổi chiều, ... Nhiều khi, gia đình thấy H ngồi một chỗ, lúc thì lẩm bẩm nhưng có lúc nói rất to như đang nói với ai đó. Đôi khi, H khoa chân múa tay như doạ dẫm người nào đó.

            Gia đình cho là H bị ma làm nên đưa H đi hết chùa này đến chùa khác để cầu phúc. Mẹ H còn lập bàn thờ tại nhà để mời thầy cúng đến rửa tội. Trong khi đó, những hành vi bất thường của H ngày càng tăng. Công việc ở cơ quan H không làm được nữa. Theo lời khuyên của một người bạn làm ngành y, gia đình đưa H đến khám tại nhà một bác sỹ tâm thần. Từ khi bắt đầu có dấu hiệu bệnh đến lúc gặp bác sỹ tâm thần, bệnh của H đã trải qua 18 tháng.

            Bác sỹ khám thấy những bất thường của H là do ảo thanh gây ra. H được điều trị bằng Risperidone 6 mg/ ngày liên tục. Gia đình H được hướng dẫn cách chăm sóc và theo dõi bệnh của H một cách cặn kẽ. Sau khoảng 4 tuần, H thấy tiếng nói giảm đi rõ rệt: tiếng nói nhỏ đi nhiều, không xuất hiện liên tục nữa mà thường xuất hiện vào những lúc nhàn rỗi, những hành vi bất thường của H hầu như không còn. H tiếp tục đi làm và vẫn hoàn thành công việc của mình. Trong suốt thời gian này, H vẫn duy trì thuốc theo chỉ dẫn của bác sỹ. Đã có những lúc, H thấy tiếng nói hầu như hết hẳn. Tuy nhiên, thời gian như vậy thường chỉ được một vài tháng.

            Được ba năm, H thấy uống thuốc rất phiền toái. Cùng với việc gia đình ngày càng lơ là, ít quan tâm đến việc theo dõi và nhắc nhở nên H đã tự bỏ uống thuốc. Sau ba tháng, H thấy tiếng nói trong đầu xuất hiện trở lại. Tiếng nói bình luận về hành vi, lời nói, cử chỉ của H làm cho H rất khó chịu. Nhưng lúc này, H cảm thấy tiếng nói đó là do có người gây ra để làm hại H. H cảm thấy mình làm gì, nghĩ gì, định nói gì thì tiếng nói đã vang lên trong đầu.

            Gia đình đưa H gặp lại bác sỹ để khám, được chẩn đoán là bệnh tâm thần phân liệt và được điều trị bằng Haloperiol 15 mg/ngày. H được chỉ dẫn uống thuốc và tập luyện. Bệnh có ổn định hơn. H không thể làm việc tại công ty được nữa nên phải nghỉ ở nhà. H chỉ làm các công việc nội trợ bình thường và lúc bệnh thuyên giảm H có thể giúp bố soạn thảo văn bản trên máy tính. Gia đình H ân hận vì đã không nghe theo chỉ dẫn của nhà tâm thần trước đây nên đã thông cảm và giúp đỡ H rất nhiều. Họ tạo điều kiện cho H nghỉ ngơi, giúp đỡ H tham ra các công việc mà H có thể làm được. Buổi sáng và chiều cùng H tham ra các môn thể thao đồng đội như cầu lông, bóng bàn. Và H chỉ phải vào viện mỗi khi giai đoạn cấp xảy ra.

Bệnh tâm thần phân liệt là gì?

Bệnh Tâm thần phân liệt (TTPL) là một bệnh loạn thần nặng, tiến triển từ từ, có khuynh hướng mãn tính, căn nguyên hiện nay chưa rõ ràng, làm cho người bệnh dần dần tách ra khỏi cuộc sống bên ngoài, thu dần vào thế giới bên trong, làm cho tình cảm trở nên khô lạnh dần, khả năng học tập, làm việc ngày một sút kém, có hành vi ý nghĩ dị kỳ, khó hiểu.

Bệnh TTPL là bệnh khá phổ biến ở hầu hết các nước trên thế giới, tỷ lệ từ 0,3-1% dân số. Bệnh thường phát sinh ở lứa tuổi từ 18-40.

Tâm thần phân liệt (TTPL) được dịch từ chữ Schizophrenie. Phrenie là tâm thần và Schizo là chia cắt, không hoà hợp, không thống nhất hay phân liệt. Bệnh tâm thần phân liệt đã được các nhà y học biết đến từ thời xa xưa nhưng được mô tả dưới nhiều tên gọi khác nhau:

-          1857 R. Morel (Pháp) gọi là bệnh "mất trí sớm".

-          1863 K. Kahlbanm và 1870 Hecker. E (Đức) gọi là tâm thần thanh xuân.

-          1893 Mangan (Pháp) gọi là hoang tưởng mãn tính.

-          1898 E. Kraepelin (Đức) thống nhất các bệnh cảnh khác nhau nói trên dưới tên gọi chung là bệnh Mất trí sớm. (Dementia Praecox) thuật ngữ này có nghĩa là bệnh phát sinh ở tuổi trẻ và nhất thiết đưa đến trí tuệ sa sút.

-          1911 D. E Bleuler (Thuỵ Sĩ) - đã nghiên cứu thống nhất được các bệnh lý ấy dưới một tên gọi chung là bệnh tâm thần phân liệt và được toàn thế giới sử dụng cho đến bây giờ. Như vậy tâm thần phân liệt là một bệnh loạn thần nặng có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau gây ra, nhưng cũng có một đặc điểm lâm sàng chung là tính phân liệt biểu hiện bằng sự thiếu hoà hợp giữa hoạt động của tư duy, cảm xúc, ý chí...

          Trong gần một thế kỷ qua, các nhà khoa học trên toàn thế giới đã tập trung  trí tuệ nghiên cứu bệnh này, vì đây là một bệnh loạn thần nặng  nhất, phức tạp nhất.

            Bệnh tâm thần phân liệt là một bệnh phổ biến trên thế giới và nước ta chiếm tỷ lệ từ 0,3-1% dân số.

            Nhiều thành tựu lớn đã đạt được: các nhà khoa học đã tìm ra được những quy luật hình và tiến triển các thể bệnh tâm thần phân liệt, giúp cho các thầy thuốc tâm thần trên thế giới ngày càng gần nhau hơn trong chẩn đoán, từ đó ngày càng mở rộng sự hợp tác quốc tế nhằm làm sáng tỏ nguyên nhân bệnh này.

   -  1992 Tổ chức y tế thế giới tập hợp được trí tuệ của 915 nhà tâm thần học có uy tín ở 52 nước trên thế giới thống nhất đưa ra bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 và xếp bệnh TTPL ở mục F20-F29. Và từ đó bệnh TTPL được trình bày kết hợp giữa lâm sàng cổ điển và quan điểm tâm thần học hiện đại.

Nguyên nhân của bệnh TTPL

            Nguyên nhân chính của bệnh tâm thần phân liệt vẫn chưa được xác định. Hiện nay quan niệm về nguyên nhân bệnh này được đa số các nhà tâm thần học trên thế giới chấp nhận như sau: TTPL là một bệnh có nhiều thể lâm sàng khác nhau chứ không phải là một đơn thể bệnh thuần nhất. Vì vậy không do nguyên nhân độc nhất mà do nhiều nguyên nhân (cả sinh học lẫn môi trường kết hợp với nhau). Hiện nay quan điểm về nguyên nhân gây bệnh được đa số các nhà tâm thần học trên thế giới tập trung nghiên cứu và có những nhận xét sau:

- Di truyền: Theo T. Debray (Pháp), nguy cơ bị tâm thần phân liệt ở những người có 10-20% ở con cái họ, còn 30-40% nếu cả bố và mẹ bị bệnh.

- Sinh học: Nội sinh như: Rối loạn chuyển hoá các chất môi giới hoá học thần kinh (Dopamin, catecholamin, serotonin, GABA, ...).

  Một hướng nghiên cứu được chú ý nhiều nhất gần đây là giả thuyết về rối loạn hoạt động hệ Dopaminergic. Giả thuyết này dưới dạng đơn giản nhất là : TTPL có thể liên quan đến sự thừa tương đối hoạt tính Neuron hệ thống Dopamine trung ương gây tăng hoạt động hệ phản ứng Dopamine trong tâm thần phân liệt, cơ sở khoa học của giả thuyết này là hiệu quả điều trị của các thuốc hướng thần làm phong toả receptor Dopamin và làm giảm sự dẫn truyền Dopamin ở các vùng khác nhau ở não làm mất các triệu chứng loạn thần cơ bản của tâm thần phân liệt.

- Môi trường tâm lý xã hội, mất khả năng thích ứng với các stress tâm lý xã hội, rối loạn cấu trúc và xung đột gia đình, các biến đổi văn hoá... tuy không phải là nguyên nhân nhưng cũng là những nhân tố thúc đẩy bệnh phát sinh và phát triển.

Các triệu chứng của bệnh TTPL theo ICD.10.

            Các rối loạn phân liệt có đặc điểm chung là sự rối loạn cơ bản và đặc trưngvề tư duy, tri giác và cảm xúc không thích hợp hay cùn mòn. Ý thức còn rõ ràng và năng lực trí tuệ thường được duy trì mặc dù có một số thiếu sót về nhận thức có thễ xuất hiện trong quá trình tiến triển.

            Các nhóm triệu chứng có tầm quan trọng đặc biệt và thường đi với nhau là:

1. Tư duy vang thành tiếng, tư duy bị áp đặt hay bị đánh cắp và tư duy bị phát thanh.

2. Các hoang tưởng bị kiểm tra, bị chi phối hay bị động, có liên quan rõ rệt với vận động thân thể hay các chi hoặc có liên quan với những ý nghĩ hành vi hay cảm giác đặc biệt, tri giác hoang tưởng.

3. Các ảo thanh bình luận thường xuyên về hành vi của bệnh nhân hay thảo luận với nhau về bệnh nhân hoặc các loại ảo thanh khác xuất phát từ một bộ phận nào đó của cơ thể.

4. Các loại hoang tưởng dai dẳng khác không thích hợp về mặt văn hoá và hoàn toàn không thể có được (khả năng điều khiển thời tiết, hoặc đang tiếp xúc với người của thế giới khác, hoang tưởng kỳ quái).

5. Ảo giác dai dẳng bất cứ loại nào có khi kèm theo hoang tưởng thoáng qua hay chưa hoàn chỉnh, không có nội dung cảm xúc rõ ràng hoặc kèm theo ý tưởng quá dai dẳng xuất hiện hàng ngày trong nhiều tuần, nhiều tháng.

6. Tư duy gián đoạn hay thêm từ khi nói, đưa đến tư duy không liên quan hay lời nói không thích hợp hay ngôn ngữ bịa đặt.

7. Tác phong căng trương lực như kích động, giữ nguyên dáng hay uốn sáp, phủ định, không nói hay sững sờ.

8. Các triệu chứng âm tính như vô cảm rõ rệt, ngôn ngữ nghèo nàn, các đáp ứng cảm xúc cùn mòn hay không thích hợp, thường đưa đến cách ly xã hội hay giảm sút hiệu suất lao động xã hội, phải rõ ràng là các triệu chứng trên không do trầm cảm hay thuốc an thần kinh gây ra.

9. Biến đổi không thường xuyên và có ý nghĩa về chất lượng toàn diện của tập tính cá nhân biểu hiện như là mất thích thú, thiếu mục đích, lười nhác, thái độ mê mải suy nghĩ về bản thân và cách ly xã hội.

Tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL

1.      Có ít nhất một triệu chứng rõ rệt trong các nhóm từ 1 đến 4, nếu không rõ thì phải hai triệu chứng, hoặc có 2 triệu chứng trong các nhóm từ 5 đến 9.

2.      Các triệu chứng trên phải tồn tại rõ ràng trong phần lớn khoảng thời gian một tháng hay lâu hơn (nếu thời gian tồn tại các triệu chứng ít hơn 1 tháng dù có hay không điều trị phải chẩn đoán là rối loạn loạn thần cấp giống phân liệt F23.2).

3.      Không có các triệu chứng hưng cảm hoặc trầm cảm điển hình, nếu có phải đi sau các triệu chứng phân liệt và không điển hình. Nếu cả triệu chứng phân liệt và cảm xúc cùng phát triển và cân bằng nhau thì phải chẩn đoán là rối loạn phân liệt cảm xúc (F25)

4.      Loại trừ các bệnh thực thể não, các trạng thái nhiễm độc, chấn thương sọ não, chậm phát triển tâm thần

5.      Trên 40 tuổi ít nghĩ tới tâm thần phân liệt.

Chẩn đoán phân biệt:

1. Phản ứng trước các sang chấn tâm lý (stress).

            Các stress về tâm lý có thể đóng vai trò là một nhân tố thúc đẩy sự xuất hiện của một bệnh nội sinh tiềm tàng (TTPL). Song các sang chấn tâm lý cũng có thể là căn nguyên chủ yếu gây bệnh và để chẩn đoán các rối loạn dạng phản ứng này, cần phải căn cứ vào các đặc điểm lâm sàng sau:

- Bệnh xuất hiện sau một sang chấn tâm thần mạnh, đột ngột có ý nghĩa thông tin sâu sắc, vượt quá sức chịu đựng của bệnh nhân. hoặc cũng có thể bệnh xuất hiện sau một số sang chấn không mạnh lắm, xong kế tiếp nhau liên tục.

- Nội dung các triệu chứng (nhất là các hoang tưởng, ảo giác ...) có liên quan trực tiếp và phản ánh sâu sắc nội dung của các sang chấn tâm lý.

- Trong tiền sử đã có nhiều lần phản ứng nhẹ trước các sang chấn hoặc có nhiều nhân tố thuận lợi (nhân cách, cơ thể, môi trường...) thúc đẩy bệnh phát sinh.

- Điều trị đúng (liệu pháp tâm lý) bệnh khỏi nhanh và khỏi hoàn toàn không để lại di chứng tâm thần .

            Mặt khác mỗi một trạng thái phản ứng bệnh lý còn có những sắc thái lâm sàng riêng biệt để làm chẩn đoán xác định. Vì vậy các rối loạn stress sau sang chấn còn có các triệu chứng lâm sàng đặc trưng của nó.

2. Rối loạn cảm xúc nội sinh.

            Trong bệnh TTPL cũng có thể có các rối loạn cảm xúc. Các hội chứng này dù là hưng cảm hay trầm cảm song nhiều khi khá rõ rệt trong bệnh cảnh lâm sàng và tồn tại như là những rối loạn tâm thần cơ bản trong tiến triển của bệnh. Do vậy việc chẩn đoán bệnh TTPL và vác rối loạn cảm xúc nội sinh nhiều khi rất khó và phải căn cứ vào các đặc trưng sau đây (của các rối loạn  cảm xúc):

- Các rối loạn cảm xúc xuất hiện một cách tự phát, từng thời kỳ, chiếm ưu thế rõ rệt trong bệnh cảnh lâm sàng .

- Thời gian tồn tại các hội chứng cảm xúc có thể kéo dài xong vẫn có giới hạn rõ rệt (3-6 tháng) đó là các cơn, các giai đoạn.

- Các rối loạn cảm xúc khác xuất hiện trước các triệu chứng loạn thần khác.

- Các triệu chứng loạn thần (hoang tưởng, ảo giác là thứ phát và có nội dung phù hợp với khí sắc nền tảng của quá trình bệnh lý).

- Khí sắc ổn định thì các triệu chứng loạn thần cũng thuyên giảm hoặc mất đi.

- Không đưa đến các dị tật tâm thần mặc dù bị tái phát nhiều lần. Giữa các chu kỳ trạng thái hoạt động tâm thần gần như trở lại bình thường. Thời kỳ ổn định này có thể từ vài tháng đến vài năm.

- Trong tiền sử đã có những cơn rối loạn cảm xúc hoặc rối loạn khí sắc rõ rệt.

3. Loạn thần thực thể.

            Những trường hợp mà căn nguyên của loạn thần là hậu quả của các bệnh nội khoa, nội tiết, nhiễm khuẩn, nhiễm độc, chấn thương và các quá trình tổn thương thực thể khác ở trong cũng như ngoài não. Việc thăm khám cơ thể toàn diện cả về lâm sàng và cận lâm sàng sẽ giúp phát hiện sớm, điều trị kịp thời các bệnh lý chính nằm ở bên dưới, tránh được các biến chứng của bệnh có thể tử vong. Về mặt lâm sàng tâm thần các biểu hiện sau đây là các gợi ý chẩn đoán loạn thần thực tổn:

- Bệnh cảnh loạn thần xuất hiện nhất thời, liên quan trực tiếp và phụ thuộc vào tiến triển các triệu chứng của bệnh chính.

- Khi bệnh cảnh khỏi thì loạn thần cũng mất đi.

- Nếu là loạn thần cấp thì thường có các biểu hiện rối loạn ý thức (đi từ u ám đến hôn mê, hôn mê, mê sảng lú lẫn...) có thể có hội chứng kích động giống động kinh, hội chứng ảo giác cấp.

- Có thể có các hội chứng bịa chuyện, Korsakop nhất thời, cảm xúc không ổn định (dễ khóc lóc, dễ bùng nổ thô bạo, hội chứng tâm thần thực tổn...) nếu bệnh lý kéo dài.

- Tuỳ từng bệnh lý cơ thể mà triệu chứng lâm sàng có thể tiến triển theo những quy luật riêng biệt; có các triệu chứng cơ thể kèm theo và nhất thời và các triệu chứng cận lâm sàng nhiều khi rất có giá trị cho chẩn đoán sớm (công thức máu, máu lắng, chụp X quang phổi, X quang sọ não, huyết thanh chẩn đoán giang mai, điện não đồ...)

- Đôi khi ngưỡng dung nạp các thuốc an thần kinh thấp, các biểu hiện tác dụng phụ của thuốc như ngoại tháp, lú lẫn... lại xuất hiện sớm và nặng cũng là sự gợi ý đến một căn nguyên thực tổn nằm bên dưới các triệu chứng loạn thần.

4. Trạng thái nhiễm độc chất ma tuý hay dạng các chất ma tuý.

            Những người nghiện chất ma tuý nhất là nghiện thuốc phiện hay các chất dạng thuốc phiện, nghiện rượu... cũng có thể bị các rối loạn tâm thần nhiều khi là những trạng thái loạn thần rõ rệt, cần phải được phân biệt với bệnh TTPL. Các triệu chứng đặc trưng cần lưu ý đến các rối loạn tâm thần do rượu hoặc ma tuý là:

- Có tiền sử sử dụng rượu hay ma tuý.

- Có các biểu hiện hội chứng cai (tuỳ thuộc vào từng loại chất và liều dùng trước khi cai).

- Xét nghiệm có chất ma tuý trong máu và nước tiểu.

- Các triệu chứng loạn thần xuất hiện trong hoặc ngay sau khi sử dụng chất ma tuý, thay đổi tuỳ theo chất ma tuý và nhân cách người bệnh thường là các ảo giác sinh động, hiện tượng nhận nhầm, kích động tâm thần vận động (hoặc sợ hãi mãnh liệt, ngơ ngác, sững sờ...). Các triệu chứng này xuất hiện nhất thời, không hệ thống, mất đi trong vòng vài ngày đến vài tháng.

- Còn có thể gặp hội chứng quên thực tổn, biến đổi nhân cách dưới dạng vô cảm, mất sáng kiến, có xu hướng không tự săn sóc bản thân, hay nghi kỵ, ghen tuông, mất khả năng tự kiềm chế, có các hành vi thô bạo, bùng nổ (nhất là do rượu).

5. Các rối loạn có các triệu chứng của tâm thần phân liệt trong chương F2. ICD.10.

* Với rối loạn  loại phân liệt.

- Không có các triệu chứng đặc trưng rõ rệt của bệnh TTPL (ảo thanh ra lệnh, tri giác hoang tưởng tâm thần tự động, hoang tưởng bị chi phối, bị kiểm tra...)

- Có các rối loạn cảm xúc, tác phong, tư duy, mang tính thiếu hoà hợp, các rối loạn ám ảnh, nghi bệnh, loạn cảm giác bản thể, ảo tưởng, giải thể nhân cách... Tiến triển mãn tính từ hai năm trở lên.

* Rối loạn loạn thần cấp với các triệu chứng của tâm thần phân liệt.

- Có các trường hợp đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán của bệnh TTPL, song bệnh cảnh khởi đầu cấp diễn (trong vòng 2 tuần), có các yếu tố stress kết hợp. Các triệu chứng của TTPL chỉ tồn tại dưới 1 tháng và bệnh thường khỏi hoàn toàn trong vòng 2-3 tháng.

* Rối loạn loạn thần cấp giống TTPL.

- Khởi đầu cấp diễn (2 tuần hay ngắn hơn).

- Các triệu chứng đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh TTPL nhưng xuất hiện và tồn tại dưới một tháng.

Các thể lâm sàng:

1. TTPL thể hoang tưởng (Pranoid) F20.0

- Bệnh nhân phải có các biểu hiện đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh TTPL (như ở mục 5).

- Hội chứng chiếm ưu thế: Hoang tưởng tương đổi ổn định có ảo giác kèm theo, đặc biệt ảo thanh, các rối loạn cảm xúc, ý chí, ngôn ngữ và các triệu chứng căng trương lực không rõ rệt.

- Tiến triển trung bình, điều trị có kết quả bằng các thuốc an thần kinh.

2. TTPL thể thanh xuân F20.

- Bệnh nhân đáp ứng đủ các tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh TTPL (như ở mục 5).

- Nổi bật trong bệnh cảnh là kích động si dại, nói năng hỗn độn, rời rạc, lố lăng.

- Thường gặp ở lứa tuổi 15-25, tiên lượng xấu, do các triệu chứng âm tính tiến triển nhanh, đặc biệt cảm xúc cùn mòn và mất ý chí.

3. TTPL thể căng trương lực F20.2.

- Đáp ứng tiêu chuẩn TTPL (mục 5).

- Giảm vận động đến sững sờ không nói (giảm rõ rệt tính phản ứng với môi trường, giảm các vận động hoặc hoạt động tự phát).

- Hoặc kích động, lặp đi lặp lại xen với bất động sững sờ.

- Người bệnh giữ ở một tư thế bị áp đặt bất thường, kỳ dị trong thời gian hàng giờ, hàng ngày.

- Không làm theo hoặc chống lại mệnh lệnh của thầy thuốc và người thân.

- Nhắc lại lời nói hoặc cử chỉ của người khác.

4. TTPL thể trầm cảm sau phân liệt.

- Đáp ứng tiêu chuẩn TTPL (mục 5). Hiện tại vẫn còn các triệu chứng của TTPL: phàn nàn, buồn chán, bi quan, giảm thích thú, thiểu lực như là hậu quả của bệnh trầm cảm.

- Đáp ứng kém các thuốc kháng TTPL, nguy cơ tự sát, tự huỷ hoại.

5. TTPL di chứng F20.5.

- Đáp ứng tiêu chuẩn TTPL (mục 5).

- Triệu chứng âm tính nổi bật: chậm chạp, hoạt động giảm, cảm xúc cùn mòn, bị động, kém sáng kiến, ngôn ngữ nghèo nàn, lười biếng kể cả chăm sóc cá nhân, không quan tâm đến xung quanh, tính nết thay đổi thất thường, khó thích ứng với xung quanh.

6. TTPL đơn thuần F20.6.

- Bệnh khởi phát từ từ với những biểu hiện cảm xúc khô cằn, lạnh lùng, sống thu mình, lang thang, cách ly xã hội, mất quan tâm thích thú, lười biếng, kỳ dị.

- Hoang tưởng ảo giác mờ nhạt, không đáng kể.

7. TTPL cảm xúc F25.

-  Biểu hiện của rối loạn phân liệt và rối loạn cảm xúc (có thể là hưng phấn, hoặc buồn chán hoặc hỗn hợp cả hai) đồng thời cũng xuất hiện ngang nhau trong một giai đoạn bệnh.

- Giai đoạn buồn chán trong rối loạn cảm xúc không phải là một giai đoạn trầm cảm sau phân liệt.

8. TTPL thể không biệt định.

- Đáp ứng tiêu chuẩn chẩn đoán TTPL (mục 5).

- Trong bệnh cảnh không biểu lộ các triệu chứng thoả mãn các tiêu chuẩn để xếp vào thể hoang tưởng hoặc các thể trên.

Các giai đoạn tiến triển của bệnh TTPL:

1. Giai đoạn báo trước.

- Người bệnh ngày càng giảm sút khả năng học tập và công tác, đầu óc mù mờ khó suy nghĩ, cảm xúc lạnh nhạt dần, khó thích ứng với ngoại cảnh, giảm dần các thích thú trước đây.

- Một số bệnh nhân biểu hiện trạng thái giống suy nhược thần kinh, đau đầu, mất ngủ, chóng mệt mỏi, khó tiếp thu cái mới, bồn chồn lo lắng, dễ nổi nóng, dễ bùng nổ.

- Cảm giác bị động tăng dần, thấy như mình đuổi sức trước cuộc sống. Một số thấy có biến đổi kỳ lạ trong người như thay đổi nét mặt màu da. Có bệnh nhân trở nên say sưa đọc các loại sách triết học, lý luận viển vông không phù hợp với thực tế.

2. Giai đoạn toàn phát.

            Các triệu chứng khởi đầu nặng dần lên đồng thời các triệu chứng loạn thần rầm rộ bao gồm các triệu chứng dương tính (ảo giác, hoang tưởng), các triệu chứng âm tính (thiếu hoà hợp). Tuỳ theo triệu chứng nào nổi bật lên hàng đầu và thời gian kéo dài trong giai đoạn kịch phát người ta chia ra các thể bệnh khác nhau (như đã trình bày).

3. Giai đoạn di chứng.

            Các triệu chứng loạn thần như hoang tưởng, ảo giác mất đi hoặc mờ nhạt, chỉ còn các triệu chứng âm tính nổi bật lên như cảm xúc cùn mòn, ngôn ngữ nghèo nàn, hoạt động kém, bị động trong cuộc sống, kém chăm sóc bản thân, một số bệnh nhân sống lang thang.

4. Các kiểu tiến triển.

- Tiến triển liên tục.

- Từng giai đoạn với thiếu sót tăng dần.

- Từng giai đoạn với thiếu sót ổn định.

- Từng giai đoạn có thuyên giảm.

- Thuyên giảm không hoàn toàn.

- Thuyên giảm hoàn toàn.

Tiên lượng:

1. Dựa vào thể tiến triển và thể lâm sàng, thể tiến triển liên tục nặng hơn thể tiến triển chu kỳ, trong các thể tiến triển liên tục thì 3 thể:

-          Đơn thuần

-          Thanh xuân

-          Căng trương lực

Là 3 thể nặng nhất.

2. Cơ địa.

- Tuổi phát bệnh càng trẻ bệnh càng nặng.

- Nhân cách trước khi bị bệnh: Hoà hợp, cởi mở, thích ứng với xã hội, khi bị bệnh thường bị các thể nhẹ, điều trị có hiệu quả hơn. Nhân cách trước khi bị bệnh kín đáo, ít cởi mở, ít quan hệ, ít hoà hợp... Khi bị bệnh thường nặng hơn và điều trị ít hiệu quả.

- Nhân tố thuận lợi: nếu bệnh phát sinh có nhân tố thuận lợi của môi trường bên ngoài tác động, thường bị thể nhẹ hơn và điều trị dễ hơn, nếu không có nhân tố bất lợi tác động thì ngược lại.

- Yếu tố di truyền: có yếu tố di truyền bệnh nặng hơn.

Điều trị bệnh TTPL:

            Do nguyên nhân gây bệnh chưa rõ ràng. Do có sự kết hợp giữa các nhân tố sinh học và môi trường trong cơ chế bệnh sinh nên phải kết hợp nhiều liệu pháp khác nhau trong điều trị, lựa chọn từng liệu pháp thích hợp cho từng giai đoạn, từng thể bệnh.

1. Liệu pháp tâm lý.

- Tiếp xúc với người bệnh với thái độ thông cảm, nâng đỡ, không mặc cảm, coi thường, tránh né hay khiếp sợ.

- Tổ chức hệ thống cửa mở trong bệnh viện tránh giam giữ họ đến mức tối đa. Tổ chức bệnh viện ban ngày tại cộng đồng.

- Giải quyết những nhu cầu và những mâu thuẫn của người bệnh tại gia đình và cộng đồng ...

2. Liệu pháp lao động và thích ứng xã hội.

            Nhằm phục hồi lại các chức năng lao động và nghề nghiệp mà bệnh nhân đạt được mức tối ưu về chức năng sinh hoạt, giao tiếp, tâm lý xã hội, lao động nghề nghiệp trong cộng đồng.

3. Liệu pháp hoá dược.

            Là liệu pháp thông dụng nhất và có hiệu lực nhất trong điều trị các trạng thái loạn thần cấp và trong việc chống lại khuynh hướng mạn tính hoá và tái phát của bệnh

            Nguyên tắc sử dụng:

+ Chọn thuốc phù hợp với triệu chứng lâm sàng:

+ Dùng thuốc thích hợp với từng trạng thái cơ thể, chú ý phụ nữ có thai, người già và người cho con bú. Hạn chế tối đa sự kết hợp các an thần kinh cùng một lúc.

+ Theo dõi chặt chẽ, phát hiện kịp thời các tác dụng phụ, biến chứng, tình trạng dị ứng, bệnh cơ thể và trạng thái nhiễm độc.

4. Liệu pháp sốc điện

* Chỉ định:   - trầm cảm có ý tưởng hành vi tự sát.

                     - các trạng thái căng trương lực sững sờ, không chịu ăn.

                     - kích động, hoang tưởng, ảo giác điều trị lâu ngày kháng thuốc.

Dự phòng bệnh TTPL

Nguyên nhân của bệnh TTPL chưa rõ ràng nên phương pháp phòng bệnh tuyệt đối chưa có cơ sở chắc chắn. Tuy nhiên vẫn cần phải phòng bệnh tương đối, chú trọng vào các đặc điểm sau đây:

- Rèn luyện cho trẻ em, hoà nhập với tập thể, biết cách thích ứng với môi trường và các điều kiện khó khăn của cuộc sống.

- Theo dõi những người có yếu tố di truyền để phát hiện sớm và điều trị sớm.

- Tiếp tục theo dõi bệnh nhân sau khi ra viện, kiên trì điều trị củng cố và tích cực chữa các bệnh nhiễm khuẩn, bệnh cơ thể, tránh cho bệnh nhân quá mệt mỏi, lao động quá sức, để đề phòng bệnh có thể tái phát.

- Loại trừ các sang chấn tâm thần tại cộng đồng và gia đình tránh yếu tố gây tái phát.

- Phục hồi chức năng tâm lý xã hội và lao động nghề nghiệp tại cộng đồng.

TS.BSCKII. Lã Thị Bưởi

 

Các bài viết khác:

Partner 01
Partner 02
Partner 03
MN Brainy house
Partner 05
Partner 07
YTCC